Ba kiến nghị của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng về đổi mới chương trình, sách giáo khoa

[ad_1]

LTS: Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết của ông chia sẻ một số vấn đề tồn tại trong cách làm chương trình, sách giáo khoa hiện nay.

Tòa soạn xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết này. Văn phong, nội dung bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Tên bài viết và các tít phụ, đề mục trong bài do Tòa soạn đặt.

Hai tháng trước tôi có một số bài viết về “Đổi mới giáo dục” đăng trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, trong đó đã có một số ý kiến về “Đổi mới chương trình”. 

Sau đó, tôi có nhận được các ý kiến phản hồi. Lần này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho công bố dự thảo “Chương trình tổng thể” (mới) về giáo dục phổ thông để mọi người góp ý. 

Nhân đây, tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến, vừa là góp ý, vừa là trao đổi để phản hồi ý kiến của bạn đọc về mấy bài báo lần trước.

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên kiến nghị Chính phủ, Quốc hội xin hoãn thông qua Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 1 năm để làm rõ các vấn đề cốt lõi, tránh vì áp lực thời hạn mà làm cho xong

Sau một thời gian bị “đắp chiếu” nằm chờ, thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tích cực chỉ đạo và thúc đẩy việc soạn thảo “Chương trình” giáo dục phổ thông, một số cán bộ và chuyên gia đã làm việc với tinh thần khẩn trương, rất cố gắng.

Hiện nay Bộ đang đưa ra để lấy ý kiến đóng góp của những người quan tâm. Trước hết, chúng tôi xin rất hoan nghênh tinh thần đó, của Bộ và Ban soạn thảo, của các chuyên gia đã trực tiếp tham gia chuẩn bị.

Theo quy định về tiến độ, phải hoàn thành các công việc để năm 2018 học theo chương trình mới, có sách giáo khoa mới. 

Thời gian còn lại chỉ có một năm, trong khi, theo như tôi biết, những việc đã làm được chưa phải đã nhiều, mà trong đó còn những nội dung chưa ổn, thậm chí cần phải gia công rất nhiều nữa, khối lượng công việc còn lại thì vô số kể, và khó nữa.

Chúng ta chưa có đánh giá rõ và đầy đủ các chương trình đã đầu tư, đang sử dụng hiện nay. 

Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, ảnh do tác giả cung cấp.

Bản thân chương trình tổng thể (mới) chưa phải đã ổn. Còn chương trình cụ thể các môn học thì bây giờ mới bắt đầu, nói chung là vậy. 

Khi đụng đến các nội dung cụ thể, nhất là đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn, sẽ gặp các vấn đề về quan điểm, về nhạy cảm, phải tốn nhiều thời gian để thảo luận. 

Rồi chuyện giảng dạy thực nghiệm, đào tạo giáo viên, tổ chức việc làm sách, làm học liệu, thẩm định sách và đổi mới cách quản lý, chuẩn bị hạ tầng, thiết bị. 

Việc học hai buổi và một buổi khác nhau nhiều về yêu cầu hạ tầng. 

Việc chuẩn bị công tác quản lý và chuẩn bị giáo viên theo cách mới cũng rất nhiều việc, mà hiện tại tôi thấy các cơ quan liên quan và các cơ sở đào tạo về cơ bản vẫn chưa có chuyển động.

Trước đây ta xác định thời gian như vậy cũng không phải không có căn cứ, nhưng sau đó thì việc triển khai bị chậm lại rất nhiều. 

Khi thì chờ bố trí ngân sách. Lúc ngân sách đã bố trí  thì bảo phải chờ vốn vay (không dùng ngân sách trực tiếp). 

Tôi cũng không hiểu chuyện này. Vốn nào cũng của ngân sách cả, sao cứ nhất thiết phải đợi vốn vay, hay sự chặt chẽ và lỏng lẻo trong quản lý có khác nhau?

Tiếp theo là sự chờ đợi do thay đổi cán bộ, sắp xếp lại tổ chức và bố trí lại cán bộ theo kiểu mới, kiểu khác. 

Cộng tất cả lại thì chậm cả năm. Do triển khai chậm nên bây giờ thì không đủ thời gian.

Khi đề cập đến yêu cầu đối với công việc, ta thường nói chất lượng và thời gian, cái nào cũng quan trọng, phải đồng thời bảo đảm cả hai. 

Nghe thì chặt chẽ, mà nói chung cũng đúng, nhưng cụ thể trong việc làm chương trình này, với thời gian và công việc cụ thể hiện nay, thì không thể đạt được cả hai yêu cầu đó cùng lúc.

Đạt yêu cầu này thì không đạt yêu cầu kia. Đó là điều chắc chắn. Ta phải duy vật và phải thấy trước câu chuyện này. 

Tôi chưa hiểu vì sao không báo cáo cho đúng thực chất và có các đề xuất khả thi trong việc này để các cơ quan có thẩm quyền xem xét cho lùi thời gian? 

Hoặc là không nắm chắc hết tình hình công việc, hoặc không dám nói thẳng vì sợ bị cấp trên đánh giá thế này thế kia, hay là bệnh thành tích? 

Theo tôi hiểu, trong hai yêu cầu đó, phải đặt lên hàng đầu vấn đề bảo đảm chất lượng. 

Ta đổi mới giáo dục với mục tiêu chính là để nâng cao chất lượng, chứ đâu phải mục đích là thay đổi cho nó khác trước?

Nếu không đạt được yêu cầu nâng cao chất lượng thì cuộc đổi mới thất bại. 

Tốn nhiều công sức và tiền của để thay đổi tới lui, làm phiền và gây vất vả cho nhau, nhưng cuối cùng vẫn căn bản như cũ, “đổi mới như cũ”, chứ không phải đổi mới căn bản. 

Và nếu vậy thì không làm là tốt hơn.

Theo tôi, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên mạnh dạn đề nghị với Chính phủ và Quốc hội xin lùi thời gian lại, thêm một năm nữa. Để làm cho kỹ, cho sâu, cho chắc. 

Chiều 17/1, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Ngân hàng Thế giới tổ chức Hội nghị khởi động dự án hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Không thể “đánh nhanh, thắng nhanh” được đâu. Đánh nhanh trong trường hợp này là sẽ thua. 

Càng không phải để kịp giải ngân. Phải “đánh chắc, thắng chắc”. Dù chậm một tí mà chắc. Dục tất bất đạt. 

Nên vận dụng phương châm ấy của cha ông ta. Cần thành công của đổi mới. Không cần sự thất bại. 

Mà thêm một năm nữa cũng phải làm việc tận tụy ngày đêm, với tất cả tâm huyết, vô tư và có phương pháp tiếp cận đúng thì mới có chất lượng tốt, chứ không đơn giản đâu. 

Thời gian chỉ mới là điều kiện thôi. Không phải cứ thêm một năm là tự nhiên có chất lượng. Không chủ quan được. Yếu tố con người và cách tiếp cận đúng mới là quyết định.

Và cũng không nhất thiết cứ phải đổi mới tất cả các môn học cùng lúc, cùng một thời điểm. Không nên hiểu việc đổi mới “toàn diện” theo kiểu máy móc ấy. 

Các môn học có mức độ lạc hậu khác nhau. Nên có môn đổi nhiều hơn, có môn đổi ít hơn. Mặt khác thì có môn đã chuẩn bị kỹ rồi, có môn chưa kịp. 

Thực tế hiện nay là vậy. 

Tôi biết có môn đã bắt đầu chuẩn bị từ 2 năm trước đây, có môn bây giờ mới bắt đầu và chọn cán bộ có chuyên môn đáp ứng yêu cầu thì cũng không dễ. 

Cần có người vừa nắm chắc khoa học cơ bản, vừa biết làm chương trình-là khoa học và nghệ thuật nữa. 

Nếu cứ ép phải “dàn hàng ngang cùng chạy” một lúc thì có môn sẽ không bảo đảm chất lượng. 

Nên chăng môn nào đã chuẩn bị tốt rồi thì làm trước. Trước sau trong vòng một năm có sao đâu? Còn hơn là làm đồng loạt mà không bảo đảm chất lượng.

2. Cần đánh giá kỹ các chương trình đã có, đã đầu tư những năm gần đây, đang hiện hành, kể cả vấn đề một chương trình và nhiều chương trình, một và nhiều bộ sách giáo khoa, hay dở thế nào, sẽ kế thừa cái gì và thay đổi cái gì, bỏ và bổ sung thế nào?

Làm rõ những nội dung đó thì mới biết là nên đổi mới thế nào. Tuổi thọ của sách giáo khoa đang sử dụng hiện nay được bao lâu rồi? 

Tôi nghe là những quyển sách lớp 12 hiện nay đang sử dụng mới in ra hồi 2009? 

Ta làm thế nào để sách giáo khoa sắp tới có tuổi thọ dài, bớt gây tốn kém mà vẫn không trở ngại việc cập nhật thông tin mới, còn “sách” giáo khoa điện tử có vai trò gì đến mức nào…?

Nên chăng, sách giáo khoa chỉ viết phần cốt lõi, với các giá trị tương đối lâu bền, còn phần khác, mềm hơn, sẽ bổ sung cập nhật liên tục, thường xuyên hằng năm thì chuyển sang cho học liệu, đưa lên một trang mạng chuyên dùng cho chương trình phổ thông? 

“Đổi mới giáo dục và món nợ với cha ông”

Đánh giá cái đã có một cách kỹ lưỡng, khoa học, sẽ giúp ta biết rõ hơn về cái mới đang làm. Nếu kém nhất cũng phải hơn cái đang có, để bảo đảm không “thua”. 

Đề phòng có môn, có phần, làm kém hơn cái cũ. Tất nhiên nếu chỉ ở mức “không thua” thì vẫn chưa phải là đổi mới căn bản. 

Một cuộc tốn kém nhưng không đạt yêu cầu đổi mới căn bản thì tức là thất bại. Và lại mất cơ hội một lần nữa.

Trên thế giới có nước một chương trình, có nước nhiều chương trình, vì sao họ làm thế? 

Ta trước đây cũng có lúc, có mấy môn, ở các lớp nào đó, chủ yếu ở cấp một, có chương trình và các bộ sách giáo khoa khác nhau?

Việc đó hay dở thế nào, vì sao sau đó không làm nữa mà phải chủ trương một chương trình và một bộ sách giáo khoa?

Chủ trương một-một, đã thành luật, nhưng rồi vẫn hai, ba? Phải chăng đó chính là yêu cầu của cuộc sống? 

Chương trình và sách VNEN, sách của Giáo sư Hồ Ngọc Đại…đánh giá thế nào? 

Vừa qua, trong chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, đã khẳng định “một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa”. 

Tôi nghĩ với tình hình cụ thể của nước ta hiện nay làm vậy là đúng. Tiến bộ hơn so với “một chương trình, một bộ sách giáo khoa”. 

Tuy nhiên vẫn nên tìm hiểu xem vì sao một số nước tiên tiến lại làm “nhiều chương trình”? 

Không phải để ta làm như họ bây giờ, mà để có thêm thông tin về cách tiếp cận và phương pháp luận, nhằm có một độ mở cần thiết và phù hợp trong giải quyết vấn đề chương trình, nhất là đối với trung học phổ thông-giai đoạn tiếp cận nghề nghiệp, cần có độ mở lớn hơn. 

Và tôi dự đoán, còn sẽ phải tiếp tục suy nghĩ về việc “nhiều chương trình” ở phổ thông trung học để giúp cho học sinh tiếp cận với các loại năng lực, kỹ năng rất khác nhau trong sự đa dạng của nghề nghiệp. 

Trước đây tôi có lần đã đề nghị, đối với phổ thông trung học, thì mở rộng tự chọn, hạn chế bắt buộc, đến một lúc nữa sẽ tự chọn hoàn toàn.

Vì đó là giai đoạn tiếp cận nghề nghiệp, mà nghề nghiệp thì rất đa dạng và phải tự nguyện, chứ còn giai đoạn phổ thông cơ bản thì đã kết thúc trước đó rồi. 

Nhưng dự thảo lần này, phần học bắt buộc mãi đến lớp 12 vẫn nhiều. Vậy là còn ý kiến khác nhau nhiều. 

Mặt khác, để thực hiện “một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa” một cách thực chất và có hiệu quả thì chương trình cũng cần có độ mở nhất định. 

Còn nếu chương trình rất cụ thể và cứng quá thì nếu có làm nhiều bộ sách cũng sẽ giống nhau, như một bộ vậy thôi, hạn chế cơ hội lựa chọn và khả năng sáng tạo. 

Không làm rõ, nắm chắc triết lý, mục tiêu giáo dục, đổi mới sẽ mất phương hướng

Mà thúc đẩy sáng tạo là một yêu cầu của đổi mới giáo dục, đó là biểu hiện của năng lực.

Để thực hiện “một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa” thì phải có luật chơi bình đẳng giữa các đơn vị, các nhóm làm sách. 

Theo đó, các nhóm làm sách phải có thời gian và điều kiện tiếp cận chương trình như nhau.

Hội đồng thẩm định sách gồm những người nằm ngoài các nhóm ấy. Có cơ chế tốt trong việc chọn sách nào để dạy trong số những bộ sách đã được thẩm định đạt yêu cầu và cho phép sử dụng. 

Nói tóm lại, phải rất khách quan, bình đẳng, tránh bị “lợi ích nhóm”. 

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp chỉ đạo và tổ chức làm một bộ sách trong cơ chế “nhiều bộ sách” không phải là cách làm tốt.

Nó giống như một sân chơi mà trong đó có một “đội bóng” là người nhà của “trọng tài” và được “trọng tài” trực tiếp tham gia. 

Đúng ra thì Bộ có trách nhiệm công bằng, như nhau với các đơn vị, các nhóm làm sách, với tất cả các bộ sách. 

Cách làm như chúng ta hiện tại là đổi mới nửa vời, hình thức, gọi là đổi mà không đổi, còn thực chất vẫn cơ bản như cũ.

Bộ vẫn “độc quyền” và cơ quan quản lý nhà nước vẫn trực tiếp tham gia việc làm sách (công việc không phải của mình). 

Sẽ khó mà khách quan, bình đẳng trong tiếp cận chương trình, thẩm định và chọn sách để dạy. Các lý lẽ bảo vệ cách làm này chưa có tính thuyết phục. 

Nếu thay đổi cách làm thì hoàn toàn có thể không phải tốn nhiều tiền từ ngân sách để đầu tư cho làm sách. Việc làm sách sẽ thực hiện xã hội hóa. 

Khi ấy, nhà nước chỉ cần tập trung đầu tư cho việc làm chương trình. Làm ra chương trình tốt là rất hiệu quả. 

Đầu tư đúng mức cho công việc này là việc đáng làm, để có một chương trình tốt, đồng thời góp phần tạo ra một đội ngũ có tri thức và năng lực về khoa học giáo dục, có “tay nghề” biết làm chương trình tốt, để sử dụng lâu dài cho sự nghiệp trồng người. 

Rất tiếc là Bộ Giáo dục và Đào tạo (nhiệm kỳ trước) đã tham mưu đề xuất cách làm như hiện nay. 

Nếu không sửa được vì đã lỡ triển khai rồi thì phải hết sức công tâm để tổ chức công việc một cách khách quan (tất nhiên là khó rồi). 

Nhân đây cũng xin nói luôn một thông tin: 

Có ý kiến rằng số tiền (đi vay và đối ứng) để làm chương trình và sách giáo khoa như vậy là lớn hơn nhiều so với Quốc hội đã cho phép, mà cũng không thấy mặt mũi Quyết định của Chính phủ phê duyệt? 

Ý kiến khác thì cho rằng tiền nhiều nhưng là đầu tư cho các nội dung khác, còn đầu tư cho làm chương trình thì ít quá, ảnh hưởng đến chất lượng? 

Vậy đúng sai thế nào, các cơ quan có trách nhiệm cần làm rõ và minh bạch thông tin cho dư luận biết.

3. Giá trị cốt lõi của chương trình mới lần này là gì? Đặc trưng, “linh hồn” của chương trình? 

Tôi đọc dự thảo và chưa thấy rõ, chưa hiểu. Nó còn lờ mờ, thấp thoáng, chưa hiện rõ. 

Nói cách khác là “ý định” của chương trình phải cho rõ. Chưa rõ thì tiếp tục thảo luận, trao đổi cho rõ. 

Cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đề nghị Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng rút nội dung về báo cáo thẩm tra Dự thảo Nghị quyết về Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông ra khỏi chương trình làm việc phiên họp toàn thể lần thứ sáu của Ủy ban ngày 25/4/2014 sau vụ lùm xùm 34 ngàn tỉ. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Rõ rồi mới có cơ sở để soạn chương trình. Và chương trình phải thể hiện rõ “ý đồ”. 

Nếu còn mập mờ thì sẽ khó mà đạt yêu cầu. Không nên làm theo cách vừa đi vừa tìm đường, tốn kém mà không có kết quả.

Theo cách hiểu và suy nghĩ của tôi, mà nhiều người cũng nghĩ như vậy, và Nghị Quyết của Trung ương cũng nói vậy, đổi mới chương trình lần này phải tập trung chuyển mạnh từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực Người (tức là kể cả phẩm chất). 

Tôi biết còn một số ý kiến chưa nhất trí hoặc chưa rõ điều này. Không sao cả, cứ thảo luận thêm, cho kỹ, để cho rõ lý do và bản chất của công việc đang làm. 

Có ý kiến rằng, nhấn mạnh phát triển năng lực và không coi trọng truyền thụ kiến thức thì năng lực lấy đâu để có? 

Năng lực là cái trừu tượng, còn kiến thức là cái cụ thể hơn, dễ thực hiện hơn. 

Không dạy năng lực được, mà phải dạy kiến thức chứ! Dạy kiến thức rồi mới có năng lực. Không thể có năng lực nếu không có kiến thức. 

Sự lo lắng ấy là chính đáng. Lý lẽ ấy có một phần đúng. Kiến thức là yếu tố rất quan trọng để hình thành năng lực. Không thể có năng lực tốt nếu như không có kiến thức tốt. 

Nhưng giáo dục để phát triển năng lực hoàn toàn không có nghĩa là không cần truyền thụ kiến thức. Nghĩ vậy là sai lệch và cực đoan, một chiều.

Điều đáng nói ở đây, kiến thức tuy rất cần cho năng lực, muốn có năng lực thì phải có kiến thức, nhưng kiến thức chưa phải là năng lực. 

Kiến thức chủ yếu giúp con người nhận thức thế giới. Còn năng lực mới trực tiếp giúp con người cải tạo thế giới. 

Trong thực tế ta vẫn thấy, có nhiều người khi học ở trường thì giỏi, điểm số cao, kiến thức sách vở nhiều, nhưng ra ngoài công tác thì làm không hiệu quả. 

Ngược lại, có người ở trong trường thì học điểm số không cao, nhưng ra công việc thì làm rất tốt. Đó là sự khác nhau giữa kiến thức và năng lực. 

Năng lực là việc biết sử dụng kiến thức, vận dụng trí thức, sự phát triển của kiến thức, làm cho kiến thức trở nên có ích trên thực tế. 

Mặt khác, như ta đã biết, chính thực tiễn của cuộc sống, thực tiễn hoạt động của con người là nơi đã và đang cung cấp nguồn kiến thức vô tận cho con người. 

Giáo sư Phạm Vũ Luận, Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển và những siêu đề án ngàn tỉ

Trong lịch sử từ khi có con người đã vậy, hiện tại và tương lai vẫn sẽ thế. Hoạt động thực tiễn như thế nào chính là biểu hiện năng lực như thế ấy. 

Như vậy, năng lực không chỉ là sự vận dụng và phát triển của tri thức, mà còn là nguồn cung để kiến thức trở nên phong phú và thực tế hơn. 

Còn nữa, trong năng lực có năng lực tự học và tư duy độc lập, để người học khi ra trường rồi vẫn tiếp tục tự tìm kiếm, chọn lọc và cập nhật kiến thức suốt đời chứ không phải chỉ có học kiến thức khi ở trong trường. 

Năng lực tư duy độc lập làm cho con người có sức sáng tạo liên tục-mục đích quan trọng nhất của việc học. 

Tư duy độc lập giúp con người ta trở thành chính nó, không phải là cái bóng của người khác.

Từ đó mà con người trung thực và bản lĩnh hơn, có thể ứng phó tốt hơn với thế giới đầy biến động và có sức đề kháng cao hơn đối với sự phức tạp và suy thoái trong xã hội. 

Mọi năng lực của người học sẽ bắt đầu trước tiên từ năng lực tự học. 

Trong thực tế, có những con người do hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường nhiều như bạn bè, nhưng do biết tự học, tự tạo ra năng lực, đã rất trưởng thành về sau. 

Nước ta cũng đã có những nhà lãnh đạo như vậy. Tất cả các bậc trí thức lớn, kể cả trong nước và thế giới, đều nhờ tự học mà thành, chứ không phải nhờ truyền thụ kiến thức ở nhà trường đã tạo ra các trí thức lớn ấy. 

Vậy nên, theo tôi, cũng có thể diễn đạt cách khác về chương trình giáo dục (đổi mới) lần này là chương trình “giúp học sinh có năng lực tự học”. 

Tất nhiên có thể có nhiều ý kiến khác. Vấn đề là cần thảo luận, cần làm rõ cơ sở khoa học, cần có lý thuyết về việc đổi mới chương trình. 

Chứ tôi thấy đang còn rất nhiều thứ không rõ tại sao phải làm vậy.

Cách giáo dục phát triển năng lực không có nghĩa là không truyền thụ kiến thức, mà là cách truyền thụ như thế nào, và không dừng lại ở truyền thụ kiến thức sách vở. 

Vẫn phải có truyền thụ kiến thức, nhưng đó là sự truyền thụ không áp đặt, không một chiều, khuyến khích và tôn trọng sự phản biện và tư duy độc lập của người học; 

Cung cấp những kiến thức cơ bản nhất và giá trị cốt lõi, thiết thực, chứ không phải tràn lan, mênh mông; 

Thầy giáo chỉ cần giới thiệu giá trị cốt lõi và hướng dẫn cho học sinh biết tự tìm kiến thức ở trang mạng do ngành giáo dục tổ chức ra để cung cấp kiến thức cho học sinh hoặc tìm ở thư viện; 

Trước nhất cần biết cung cấp kiến thức ấy để làm gì, rồi sau đó mới là kiến thức gì. 

Bộ giáo dục không được độc quyền biên soạn sách giáo khoa ở nước Pháp

Tôi được nghe một chuyện, có vị giáo sư của ta sang giảng bài tại Đại học ở Mỹ, khi giáo sư giới thiệu nhiều kiến thức cho sinh viên thì có sinh viên đứng dậy đề nghị thầy cho biết các em học những điều ấy nhằm mục tiêu để làm gì.

Cách giáo dục phát triển năng lực là việc mới đối với nhà trường và các thầy giáo của chúng ta. Chương trình cần tập trung cao để làm rõ điều này. 

Chưa rõ thì thảo luận tiếp, nhiều lần, nhiều cuộc, từng vấn đề, đối với tổng thể và từng môn học, từng cấp học. 

Tôi nghĩ, để giúp học sinh phát triển năng lực thì ngoài việc giới thiệu các giá trị cốt lõi, phải chú trọng hướng dẫn cách học, hướng dẫn cách phân tích và tổng hợp, khuyến khích tự học, biết cách tự tìm tư liệu, biết sử dụng thư viện, truy cập thông tin, biết sử dụng thành thạo các công cụ, nhất là tin học, vi tính và ngoại ngữ; 

Khuyến khích tư duy độc lập, tư duy phản biện, có chính kiến riêng, biết bảo vệ chính kiến và biết lắng nghe để tiếp thu và điều chỉnh; 

Phát huy tự do tư tưởng và tự do ngôn luận từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm góp phần chuẩn bị những “con người tự do”, biết quyền tự do của chính mình và tôn trọng quyền tự do của người khác, chính sự tự do sẽ thúc đẩy sáng tạo và phát triển năng lực; 

Tổ chức cho học sinh thảo luận, làm việc nhóm, cùng nhau trả lời các câu hỏi do chương trình hoặc thầy giáo đặt ra, khảo nghiệm, thực nghiệm, dự tọa đàm, đi tham quan bảo tàng, tham gia công việc nghiên cứu khoa học, trải nghiệm để sáng tạo…; 

Rồi đến cách ra đề thi, cách đánh giá chất lượng, năng lực. Chắc chắn còn nhiều nữa, tôi không thể biết hết. 

Việc này cần nhiều người nghiên cứu và thảo luận. 

Nhớ lại hồi còn nhỏ, có lần tôi hỏi một ông bác lớn tuổi, nhờ bác ấy chỉ đường đi đến một địa chỉ cần đến. 

Bác ấy không bảo tôi phải rẽ trái, rẽ phải hoặc đi thẳng, mà hướng dẫn rằng, tôi đang ở phía đông-nam, nơi cần đến là tây-bắc, đường đi nằm phía dưới mũi, tức là miệng, tức là vừa đi vừa tiếp tục hỏi đường. 

Với phương pháp đó, tôi có thể đi đến nhiều chỗ khác, chứ không phải chỉ có một lần. 

Hồi còn đi học, chúng tôi có một ông thầy, suốt mấy năm trời không thấy ông truyền thụ cho chúng tôi kiến thức cụ thể gì, ông chỉ đặt câu hỏi, hết câu này đến câu khác, cứ vậy. 

Trả lời xong các câu hỏi của ông thì học sinh nào trong chúng tôi cũng nhận thấy mình trưởng thành đáng kể so với trước đó. 

Nhà giáo Phạm Toàn đã nói rất đúng rằng, giáo dục là “tổ chức sự trưởng thành của thanh thiếu niên”.

Các tiêu chí, các chuẩn về chất lượng đầu ra, khi nêu lên quá nhiều như vậy thì trùng lặp và tản mạn, mà vẫn không đủ. 

Nên chăng, nêu ít vấn đề hơn, tập trung vài ba điểm quan trọng nhất, trong tình hình cụ thể của nền giáo dục nước nhà, phù hợp với nhận định về xu thế chung trong những năm sắp đến. 

Phẩm chất trung thực và nhân ái, năng lực tự học có thể là những điểm quan trọng hàng đầu.

Chương trình tổng thể cần chỉ ra các cơ sở khoa học vì sao phải thay đổi như vậy và cần định hướng cho chương trình môn học, chỉ ra giá trị cốt lõi và giải pháp chính yếu để phát triển năng lực đối với môn học ấy.

Tóm lại, theo tôi: Chưa vội thông qua chương trình như dự thảo mà nên xin lùi thời gian lại, tổ chức thêm các cuộc thảo luận chuyên gia từng vấn đề để tiếp tục làm rõ và hoàn thiện, chuẩn bị điều kiện về hạ tầng mềm và hạ tầng cứng. 

Và cũng xin nói trước điều này, nếu cứ làm vội, chạy theo thời gian, chứ tôi chưa nói chạy theo thành tích, thì cuộc đổi mới căn bản chương trình giáo dục phổ thông lần này sẽ không thành công, nếu không muốn nói là thất bại. 

Và tôi, cũng như rất nhiều người quan tâm, không muốn điều đó xảy ra đối với nền giáo dục nước nhà.

Quảng Nam tháng 4/2017./.

[ad_2]

Source link

Leave a Reply